T2. Th6 17th, 2024

Tình hình kinh tế – xã hội cả nước tháng Một năm 2023

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa đông xuân, gieo trồng cây hoa màu trên cả nước. Chăn nuôi phát triển ổn định. Sản xuất lâm nghiệp tập trung chuẩn bị mặt bằng, ươm và chăm sóc cây giống cho công tác trồng rừng, tổ chức phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và tăng cường công tác bảo vệ rừng, chống cháy rừng. Nuôi trồng thủy sản đẩy mạnh thu hoạch để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán.

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/01/2023, cả nước gieo cấy được 1.882,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,9% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc đạt 105,1 nghìn ha, bằng 79,6% cùng kỳ năm trước do thời tiết lạnh kéo dài nên vụ mùa năm 2022 kết thúc muộn và năm 2023 nhuận tháng 2 làm cho khung thời vụ gieo cấy lúa đông xuân muộn hơn so với các năm khác. Các địa phương phía Nam đạt 1.777 nghìn ha, bằng 101,4% cùng kỳ năm trước, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.434,9 nghìn ha, bằng 99,8%.

Để tăng hiệu quả sản xuất vụ đông xuân, bà con nông dân cần tuân thủ lịch thời vụ, thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh, theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết để đảm bảo cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt.

Diện tích một số cây rau màu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngô, khoai lang, đậu tương, lạc giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao và gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm; cây rau đậu tăng khá để phục vụ tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán.

Hình 1: Gieo trồng một số cây hàng năm vụ đông xuân
(Tính đến 15/01/2023)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023
Chăn nuôi trong tháng phát triển ổn định. Các cơ sở chăn nuôi đảm bảo nguồn cung cho dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, dự báo trong thời gian tới có nhiều đợt rét đậm, rét hại đặc biệt tại các địa phương phía Bắc, do đó người chăn nuôi cần chủ động chuẩn bị chống rét cho đàn vật nuôi.
Hình 2. Tốc độ tăng/giảm số lượng gia súc, gia cầm 
cuối tháng 01/2023 so với cùng thời điểm năm trước
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 1

Tính đến ngày 25/01/2023, cả nước không còn dịch lợn tai xanh, dịch lở mồm long móng và dịch viêm da nổi cục; dịch cúm gia cầm chỉ còn ở Quảng Ninh; dịch tả lợn châu Phi còn ở 10 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 01/2023 ước đạt 8,1 nghìn ha, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2022; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 4,5 triệu cây, tăng 4,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 951,6 nghìn m3, tăng 1,6%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao như Nghệ An đạt 44,2 nghìn m3, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Trị đạt 77 m3, tăng 6,2%.

Trong tháng 01/2023, diện tích rừng bị thiệt hại[1] là 29,9 ha, giảm 44,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị cháy là 2,5 ha, giảm 64,4%; diện tích rừng bị chặt, phá là 27,4 ha, giảm 41,2 %.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng 01/2023 ước đạt 592,1 nghìn tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 434,3 nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 58,7 nghìn tấn, tăng 0,3%; thủy sản khác đạt 99,1 nghìn tấn, giảm 0,2%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 333,7 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 242,4 nghìn tấn, tăng 4,0%; tôm đạt 48,8 nghìn tấn, tăng 1%. Sản lượng cá tra ước đạt 110,2 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu và giá cũng tăng lên[2]. Sản lượng tôm nuôi trong tháng tăng nhẹ so với cùng kỳ do người dân tập trung thu hoạch từ những tháng cuối năm 2022 phục vụ xuất khẩu. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 28,8 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 15,6 nghìn tấn, giảm 0,6%.

Hình 3. Sản lượng thủy sản tháng 01 năm 2023
(So với cùng kỳ năm 2022)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 2
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 01/2023 ước đạt 258,4 nghìn tấn, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 191,9 nghìn tấn, giảm 4,1%; tôm đạt 9,9 nghìn tấn, giảm 2,9%; thủy sản khác đạt 56,6 nghìn tấn, giảm 2,9%. Sản lượng thủy sản khai thác giảm do những ngày cuối tháng Một trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên ngư dân không ra khơi. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 244,8 nghìn tấn, giảm 4%, trong đó: Cá đạt 183,2 nghìn tấn, giảm 4,1%; tôm đạt 9 nghìn tấn, giảm 3,2%.

2. Sản xuất công nghiệp

Tết Nguyên đán Quý Mão diễn ra trong tháng Một năm 2023 nên số ngày làm việc ít hơn 8-10 ngày so với tháng trước và cùng kỳ năm trước[3], nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất trong tháng trước để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết, số lượng đơn đặt hàng và quy mô đơn hàng giảm đã ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp tháng Một năm 2023. Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế dự báo kinh tế thế giới năm 2023 tăng trưởng thấp và có thể suy thoái. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2023 giảm 14,6% so với tháng trước và giảm 8% so với cùng kỳ năm trước[4].

Trong đó, chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo tháng 01/2023 giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước, làm giảm 7 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành khai khoáng giảm 4,9%, làm giảm 0,8 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 3,4%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất tháng 01/2023 của một số ngành trọng điểm cấp II giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất phương tiện vận tải khác (mô tô, xe máy) giảm 27,1%; sản xuất xe có động cơ giảm 23,9%; sản xuất trang phục giảm 21%; sản xuất thiết bị điện giảm 19,1%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 17,4%; sản xuất kim loại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan cùng giảm 14,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 13,6%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 12,1%; dệt giảm 11,8%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của  một số ngành tăng: Sản xuất đồ uống tăng 17,5%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 5,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 3,8%.

Biểu 1. Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP tháng 01 các năm 2019-2023
so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm
%
2019 2020 2021 2022 2023
Sản xuất phương tiện vận tải khác 8,8 -17,8 11,7 0,5 -27,1
Sản xuất xe có động cơ 26,5 -28,3 36,9 2,8 -23,9
Sản xuất trang phục 11,1 -14,5 9,9 11,4 -21,0
Sản xuất thiết bị điện 8,0 -19,4 42,2 11,5 -19,1
Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 6,2 -13,1 34,4 -1,8 -17,4
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 10,1 -9,9 20,8 12,3 -14,5
Sản xuất kim loại 28,7 -6,8 48,7 2,7 -14,5
Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 8,8 -7,2 31,3 4,9 -13,6
Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 8,2 -9,3 31,7 7,4 -12,1
Dệt 13,2 -8,6 16,6 8,8 -11,8
Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc
và thiết bị
-1,5 -17,3 23,6 2,8 3,8
Khai thác, xử lý và cung cấp nước 4,6 8,1 4,2 2,5 5,9
Sản xuất đồ uống 8,6 -10,2 23,4 -2,7 17,5

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2023 so với cùng kỳ năm trước giảm ở 30 địa phương và tăng ở 33 địa phương trên phạm vi cả nước chủ yếu do tác động tăng, giảm của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện[5].

Hình 4. Tốc độ tăng/giảm IIP tháng 01 năm 2023
so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 3

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tháng 01/2023 giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Khí hóa lỏng LPG giảm 33,3%; xe máy giảm 32,1%; ô tô giảm 31,7%; thép thanh, thép góc giảm 26,2%; đường kính giảm 25,7%; thép cán giảm 25,6%; ti vi giảm 24%; quần áo mặc thường giảm 23,4%; sơn hóa học giảm 14,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 13,6%; xi măng giảm 13,3%; thủy hải sản chế biến và sữa tươi cùng giảm 9,4%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước: Bia tăng 15,5%; sữa bột tăng 10,8%; nước máy thương phẩm tăng 5,9%; sắt, thép thô tăng 4,3%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 3,7%; xăng dầu tăng 3,1%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/01/2023 giảm 0,9% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,2% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không đổi và tăng 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,5% và tăng 0,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,1% và giảm 0,1%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 0,9% và tăng 0,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 0,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 2,6%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[6]

Theo báo cáo từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng Một năm 2023, cả nước có 10,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 99,1 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 68,6 nghìn lao động, tăng 0,7% về số doanh nghiệp, giảm 7,5% về vốn đăng ký và giảm 5,2% về số lao động so với tháng 12/2022. So với cùng kỳ năm trước, giảm 16,6% về số doanh nghiệp, giảm 48,5% về số vốn đăng ký và giảm 11% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 9,1 tỷ đồng, giảm 8,2% so với tháng trước và giảm 38,2% so với cùng kỳ năm 2022. Nếu tính cả 279 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 4,5 nghìn doanh nghiệp tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong tháng Một là 378,1 nghìn tỷ đồng, giảm 29,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước có 15,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 146,8% so với tháng 12/2022 và giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2022), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tháng 01/2023 lên 25,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước.

Theo khu vực kinh tế, tháng 01/2023 có 125 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 43,9% so với tháng 01/2022; 2.540 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 22,9%; 8.178 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 13,8%.

Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 4

Cũng trong tháng 01/2023, có 34.994 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 19,6 % so với cùng kỳ năm 2022; có 6.841 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 3,4%; có 2.038 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,6%.

Biểu 2. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể tháng 01/2023
phân theo một số lĩnh vực hoạt động

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) cùng kỳ năm trước (%)
Thành lập mới Giải thể Thành lập mới Giải thể
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 4.106 721 -11,7 -3,0
Công nghiệp chế biến chế tạo 1.249 241 -24,9 13,7
Xây dựng 1.144 156 -21,6 -11,9
Kinh doanh bất động sản 338 153 -65,0 17,7
Vận tải kho bãi 494 82 -29,8 -12,8
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 561 99 2,6 -10,8
Sản xuất phân phối, điện, nước, gas 96 50 -5,9 -5,7

4. Đầu tư

Hoạt động đầu tư trong tháng Một tập trung chủ yếu vào việc phân khai kế hoạch vốn năm 2023, các công trình mới được bố trí vốn đang trong thời gian chuẩn bị hoàn tất các thủ tục, hồ sơ chuẩn bị đầu tư nên khối lượng thực hiện chủ yếu tại các công trình chuyển tiếp. Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 4% so với kế hoạch năm và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2022. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới gấp 3,1 lần cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư của Việt Nam.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 01/2023 ước đạt 27 nghìn tỷ đồng, bằng 4% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 bằng 4,4% và tăng 12,4%), bao gồm:

– Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý đạt 4,2 nghìn tỷ đồng, bằng 3,1% kế hoạch năm và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
tháng 01 năm 2023 phân theo Bộ, ngành
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023
– Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, bằng 4,2% kế hoạch năm và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 15,7 nghìn tỷ đồng, bằng 3,9% kế hoạch năm và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 4,8% và giảm 6,5%;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 875,8  tỷ đồng, bằng 4,9% và giảm 17,1%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 01/2023 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:
Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
tháng 01 năm 2023 phân theo địa phương
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 1
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[7] tính đến ngày 20/01/2023 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 1,69 tỷ USD, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 8. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam
tính đến ngày 20/01 các năm 2019-2023 (Tỷ USD)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 2
– Vốn đăng ký cấp mới có 153 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 1,2 tỷ USD, tăng 48,5% về số dự án và gấp 3,1 lần về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 651,9 triệu USD, chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 351,2 triệu USD, chiếm 29,1%; các ngành còn lại đạt 201,9 triệu USD, chiếm 16,8%.

Trong số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong tháng 01/2023, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 767,6 triệu USD, chiếm 63,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 198,2 triệu USD, chiếm 16,4%; I-xa-ren 60 triệu USD, chiếm 5%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) 47,8 triệu USD, chiếm 4%; Hàn Quốc 38,5 triệu USD, chiếm 3,2%.

– Vốn đăng ký điều chỉnh có 89 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 306,3 triệu USD, giảm 75,9% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 660,8 triệu USD, chiếm 43,7% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 606,4 triệu USD, chiếm 40,1%; các ngành còn lại đạt 244 triệu USD, chiếm 16,2%.

– Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 204 lượt với tổng giá trị góp vốn 174,1 triệu USD, giảm 60,7% so cùng kỳ năm trước. Trong đó có 78 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 150,3 triệu USD và 126 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 23,8 triệu USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 112,3 triệu USD, chiếm 64,5% giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 32,1 triệu USD, chiếm 18,4%; ngành còn lại 29,7 triệu USD, chiếm 17,1%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam tháng 01/2023, ước đạt 1,35 tỷ USD, giảm 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,05 tỷ USD, chiếm 77,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 122,7 triệu USD, chiếm 9,1%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 81,7 triệu USD, chiếm 6%.

Hình 9. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tháng Một
các năm 2019-2023 (Tỷ USD)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 3
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong tháng 01/2023 có 3 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 126,6 triệu USD, gấp 2,9 lần so với cùng kỳ năm trước; có 01 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh thêm 140,4 triệu USD (cùng kỳ năm trước là -7,2 triệu USD)

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 126,7 triệu USD, gấp 3,4 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó: bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe động cơ khác đạt 125 triệu USD; chiếm 98,7% tổng vốn đầu tư, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 1,5 triệu USD; chiếm 1,2%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 140,4 nghìn USD; chiếm 0,1%.

Trong tháng 01/2023 có 03 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Hàn Quốc là nước dẫn đầu với 125,1 triệu USD; chiếm 98,7% tổng vốn đầu tư, Thái Lan 1,5 triệu USD; chiếm 1,2%; Lào 140,4 nghìn USD; chiếm 0,1%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[8]

Trong 15 ngày đầu tháng Một năm 2023, các hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đến kỳ kê khai nộp thuế nên ước tính thu ngân sách Nhà nước đạt 2,6% dự toán năm. Chi ngân sách Nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả kịp thời các khoản lương, lương hưu, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Hình 10. Thu, chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 01/2023
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 5

Thu ngân sách Nhà nước:

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng Một năm 2023 ước đạt 42,7 nghìn tỷ đồng, bằng 2,6% dự toán năm. Cụ thể một số khoản thu chính như sau:

– Thu nội địa đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, bằng 2,3% dự toán năm, trong đó: Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 2.302 tỷ đồng, bằng 1,4%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 1.951 tỷ đồng, bằng 0,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 6.719 tỷ đồng, bằng 2,1%; thu thuế thu nhập cá nhân 2.815 tỷ đồng, bằng 1,8%; thu thuế bảo vệ môi trường 69 tỷ đồng, bằng 1%; thu tiền sử dụng đất 4.693 tỷ đồng, bằng 3,1%.

– Thu từ dầu thô đạt 1.787 tỷ đồng, bằng 4,3% dự toán năm;

– Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 10,7 nghìn tỷ đồng, bằng 4,5% dự toán năm.

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 01/2023 ước đạt 56,7 nghìn tỷ đồng, bằng 2,7% dự toán năm, trong đó: Chi thường xuyên đạt 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 3,7%; chi đầu tư phát triển 3,5 nghìn tỷ đồng, bằng 0,5%; chi trả nợ lãi 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 9,4%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Một trùng với Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một năm 2023 tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành gấp 2,1 lần.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một năm 2023 ước đạt 544,8 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 15,8% (cùng kỳ năm 2022 giảm 4%).

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Nghìn tỷ đồng
Thực hiện
tháng 12
năm 2022
Ước tính
tháng 01 năm 2023
Tốc độ tăng/giảm
tháng 01 năm 2023
so với tháng trước (%)
Tốc độ tăng
tháng 01 năm 2023 so với cùng kỳ năm trước (%)
Tổng số 517,7 544,8 5,2 20,0
Bán lẻ hàng hóa 402,8 435,4 8,1 18,1
Dịch vụ lưu trú, ăn uống 53,1 56,0 5,4 37,3
Du lịch lữ hành 2,1 2,2 2,4 113,4
Dịch vụ khác 59,7 51,2 -14,1 16,8

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2023 tăng 34,2% so với tháng 01/2019 – năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù vậy, quy mô tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một năm nay chỉ đạt 88,1% quy mô của chỉ tiêu này nếu ước tính trong điều kiện bình thường không xảy ra dịch Covid-19 từ năm 2020 đến nay.

Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 
tháng Một các năm 2019-2023
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 4

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2023 ước đạt 435,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Hàng may mặc tăng 27%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 23,8%; lương thực, thực phẩm tăng 17,9%; phương tiện đi lại tăng 14,8%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 7,2%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Một so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Đà Nẵng tăng 24,7%; Hà Nội tăng 16,6%; Hải Phòng tăng 13,9%; Quảng Ninh tăng 11,4%; Khánh Hòa tăng 9,3%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,8%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 01/2023 ước đạt 56 nghìn tỷ đồng, tăng 37,3% so với cùng kỳ năm trước, một số địa phương có tốc độ tăng cao: Đà Nẵng tăng 83,6%; Kiên Giang tăng 47,4%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 43,4%; Hà Nội tăng 32,4%; Quảng Ninh tăng 29,8%; Thừa Thiên – Huế tăng 27,4%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01/2023 ước đạt 2,2 nghìn tỷ đồng, tăng 113,4% so với cùng kỳ năm trước, một số địa phương tăng mạnh: Hải Phòng tăng 541,5%; Đà Nẵng tăng 387,1%; Tiền Giang tăng 380,2%; Lào Cai tăng 196,3%; Hà Nội tăng 113,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 98,7%.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2023 ước đạt 51,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước, một số địa phương có tốc độ tăng cao: Đà Nẵng tăng 65,3%; Đồng Nai tăng 32,9%; Khánh Hòa tăng 31,4%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 20,9%; Hà Nội tăng 12,6%; Cần Thơ tăng 10,1%; Hải Phòng tăng 6,5%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 9,8%.

b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[9]

Tháng 01/2023 là tháng có Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán diễn ra trọn trong tháng nên số ngày làm việc ít hơn tháng trước và tháng 01/2022[10]. Vì vậy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[11] so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước đều giảm. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2023 ước đạt 46,56 tỷ USD, giảm 17,3%, so với tháng trước và giảm 25% so với cùng kỳ năm trước (trong đó xuất khẩu giảm 21,3%; nhập khẩu giảm 28,9%[12]). Cán cân thương mại hàng hóa tháng 01/2023 ước tính xuất siêu 3,6 tỷ USD.

Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 01 năm 2023
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 5

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 12/2022 đạt 29,03 tỷ USD, thấp hơn 631 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 01/2023 ước đạt 25,08 tỷ USD, giảm 13,6% so với tháng trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 6,44 tỷ USD, giảm 18%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 18,64 tỷ USD, giảm 12%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Một giảm 21,3%, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước giảm 27,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 19%.

Trong tháng Một có 7 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên, chiếm 66,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Biểu 4. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu tháng 01 năm 2023

Ước tính
tháng 01/2023
(Triệu USD)
Tốc độ giảm
tháng 01/2023 so với
cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị t1 tỷ USD trở lên
Điện thoại và linh kiện 4.000 -18,6
Điện tử, máy tính và linh kiện 3.700 -11,5
Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác 2.800 -25,2
Dệt, may 2.500 -30,7
Giày dép 1.600 -17,7
Gỗ và sản phẩm gỗ 1.100 -29,8
Phương tiện vận tải và phụ tùng 1.000 -2,1

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu tháng 01/2023, hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 258 triệu USD, chiếm 1%; hàng công nghiệp chế biến ước đạt 22,32 tỷ USD, chiếm 89%; hàng nông sản, lâm sản ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm 7,6%; hàng thủy sản ước đạt 0,6 tỷ USD, chiếm 2,4%.

Hình 13. Cơ cấu xuất khẩu tháng 01 năm 2023 phân theo nhóm hàng
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 6

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 12/2022 đạt 27,29 tỷ USD, thấp hơn 1,9 tỷ USD so với số ước tính.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2023 ước đạt 21,48 tỷ USD, giảm 21,3% so với tháng trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 7,48 tỷ USD, giảm 26,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 14 tỷ USD, giảm 18,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Một giảm 28,9%, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước giảm 25,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 30,4%.

Trong tháng 01/2023 có 3 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá từ 1 tỷ USD trở lên, chiếm tỷ trọng 37,2% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Biểu 5. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu tháng 01 năm 2023

Ước tính
tháng 01/2023
(Triệu USD)
Tốc độ giảm
tháng 01/2023 so với
cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị t 1 tỷ USD trở lên
Điện tử, máy tính và LK 4.800 -34,9
Máy móc thiết bị, DC PT khác 2.200 -46,3
Điện thoại và linh kiện 1.000 -50,9

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu tháng 01/2023, hàng tư liệu sản xuất đạt 19,97 tỷ USD, chiếm 93%, trong đó hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 41,1%; hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 51,9%. Hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 1,51 tỷ USD, chiếm 7%.

Hình 14. Cơ cấu nhập khẩu tháng 01 năm 2023 phân theo nhóm hàng
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 7

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2023, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 7,6 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 8,1 tỷ USD. Tháng 01/2023 xuất siêu sang EU ước đạt 1,8 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang Nhật Bản 100 triệu USD giảm 65,3%; nhập siêu từ Trung Quốc 3,4 tỷ USD, giảm 52,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 2,5 tỷ USD, giảm 20,9%; nhập siêu từ ASEAN 1,3 tỷ USD, tăng 74,3%.

Hình 15. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu tháng 01 năm 2023
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 8

Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng 12/2022 xuất siêu 1,74 tỷ USD[13]; năm 2022 xuất siêu 12,4 tỷ USD; tháng 01/2023 ước tính xuất siêu 3,6 tỷ USD. Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1,04 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,64 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 01/2023 là tháng có Tết Nguyên đán Quý Mão nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, giá hàng hóa và dịch vụ tăng theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới và điều chỉnh theo mức thuế bảo vệ môi trường từ 01/01/2023 là những yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2023 tăng 0,52% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm 2022, CPI tháng Một tăng 4,89%; lạm phát cơ bản tháng 01/2023 tăng 5,21%.

Hình 16. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 01 các năm
giai đoạn 2019-2023 (%)
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 6

Trong mức tăng 0,52% của CPI tháng 01/2023 so với tháng trước có 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 01 nhóm hàng giữ giá ổn định.

Tám nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

Nhóm giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 1,39% (làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm) chủ yếu do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 01/01/2023, 03/01/2023 và 11/01/2023 theo giá nhiên liệu thế giới và điều chỉnh theo mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn được quy định tại Nghị quyết số 30/2022/UBTVQH15 ngày 30/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội áp dụng từ ngày 01/01/2023 đến hết ngày 31/12/2023 làm cho giá xăng tăng 2,31%, trong đó giá xăng A95 tăng 1.450 đồng/lít, giá xăng E5 tăng 1.380 đồng/lít. Ở chiều ngược lại, giá dầu diezen giảm 2,15%. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm phụ tùng tháng Một tăng 0,48%; dịch vụ khác đối với phương tiện vận tải cá nhân tăng 0,56%; dịch vụ giao thông công cộng tăng 8,81%.

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,12% do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng trong dịp Tết khiến giá rượu bia tăng 1,66%; thuốc hút tăng 0,71%; đồ uống không cồn tăng 0,49%.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,82% (tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,89%[14] (làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm); thực phẩm tăng 0,95% (làm CPI chung tăng 0,2 điểm phần trăm)[15]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,46% (làm CPI chung tăng 0,04 điểm phần trăm).

– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,7%, tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng 0,59%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 2,22%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 2,34%. Vào mùa cưới nên giá các vật dụng, dịch vụ về cưới hỏi tăng 0,7%. Bên cạnh đó, nhu cầu đồ thờ cúng vào dịp cuối năm tăng nên giá các mặt hàng này tăng 0,69%.

– Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,62% do nhu cầu mua sắm quần áo dịp Tết Nguyên đán Quý Mão tăng. Trong đó, quần áo may sẵn tăng 0,65%; may mặc khác tăng 0,46%; mũ nón tăng 0,44%; giày dép tăng 0,62%; dịch vụ may mặc tăng 0,6%; dịch vụ giày dép tăng 1,73%.

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,42%[16].

– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,36%[17].

Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

Nhóm giáo dục giảm 0,15% (làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm), trong đó dịch vụ giáo dục giảm 0,2%. Nguyên nhân chủ yếu do ngày 20/12/2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 165/NQ-CP, trong đó yêu cầu các địa phương giữ ổn định mức thu học phí năm học 2022-2023 như năm học 2021-2022 để tiếp tục hỗ trợ cho người dân nên một số địa phương đã điều chỉnh giảm mức học phí sau khi đã thu theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ[18].

– Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,12% do giá gas giảm 4,69% do từ ngày 01/01/2023, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 14.000-23.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 52,5 USD/tấn (từ mức 650 USD/tấn xuống mức 597,5 USD/tấn); giá dầu hỏa giảm 2,12% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá vào ngày 01/01/2023, 03/01/2023 và 11/01/2023; giá nước sinh hoạt giảm 0,35% do thời tiết trở lạnh trong đó các tỉnh miền Bắc trời rét đậm làm nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt giảm. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt tăng 0,08% do nhu cầu dùng điện để sưởi ấm tăng khi thời tiết chuyển lạnh; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,23%, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,9% do nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng vào dịp Tết Nguyên đán.

(3) Nhóm bưu chính viễn thông giữ giá ổn định.

Lạm phát cơ bản[19] tháng 01/2023 tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 5,21% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức CPI bình quân chung (tăng 4,89%) chủ yếu do giá gas và giá dịch vụ giáo dục giảm là yếu tố kiềm chế tốc độ tăng CPI trong tháng Một năm nay thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 20/01/2023, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.885 USD/ounce, tăng 4,32% so với tháng 12/2022 do thông tin Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất lên khoảng 5-5,25% trong năm 2023 và sau đó sẽ được giảm dần. Đây sẽ là yếu tố khiến USD giảm và vàng tăng lên. Ngoài ra, nhu cầu tìm đến vàng trong năm 2023 dự báo sẽ cao hơn do nhà đầu tư lo ngại kinh tế thế giới rơi vào suy thoái. Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng trước Tết Nguyên đán tăng làm chỉ số giá vàng tháng 01/2023 tăng 0,51% so với tháng trước; tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước.

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới giảm trong bối cảnh lạm phát của Mỹ tháng 12/2022 tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 20/01/2023, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 102,9 điểm, giảm 1,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.690 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2023 giảm 2,05% so với tháng trước; tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng 01/2023 sôi động hơn so với tháng trước khi nhu cầu đi lại và du lịch của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, vận tải hàng hóa có mức tăng thấp hơn do vận chuyển hàng hóa phục vụ Tết đã diễn ra từ tháng trước và số ngày làm việc của các hãng vận chuyển ít hơn khi kỳ nghỉ Tết rơi vào tháng Một. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tăng 34,7% về vận chuyển và tăng 71,3% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 16,2% về vận chuyển và tăng 5,3% về luân chuyển.

Vận tải hành khách tháng Một ước đạt 341,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 11,9% so với tháng trước và tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước giảm 29,4%); luân chuyển đạt 19 tỷ lượt khách.km, tăng 16% so với tháng trước và tăng 71,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước giảm 28,7%). Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 340,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm trước và 15,3 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 40,8%; vận tải ngoài nước ước đạt 1,1 triệu lượt khách vận chuyển, gấp 22,4 lần và 3,7 tỷ lượt khách.km luân chuyển, gấp 19,8 lần cùng kỳ năm trước.

Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường trong tháng 01/2023 đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

Biểu 6. Vận tải hành khách tháng 01 năm 2023 phân theo ngành vận tải

Số lượt hành khách Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
Vận chuyển
(Triệu HK)
Luân chuyển
(Tỷ HK.km)
Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 341,7 19,0           34,7           71,3
Đường sắt 0,5 0,2         273,9         230,7
Đường biển 0,7 0,04           58,4           48,9
Đường thủy nội địa 25,1 0,4           37,0           29,9
Đường bộ 310,6 11,4           33,4           30,5
Hàng không 4,8 6,9         140,4         255,5

Vận tải hàng hóa tháng Một ước đạt 202,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước tăng 0,6%); luân chuyển đạt 34 tỷ tấn.km, giảm 14,9% so với tháng trước và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước tăng 1,6%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 199,3 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,4% và 20,2 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 13,8%; vận tải ngoài nước đạt 3,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 8% và 13,8 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 5%.

Biểu 7. Vận tải hàng hóa tháng 01 năm 2023 phân theo ngành vận tải

Sản lượng hàng hóa Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
Vận chuyển
(Triệu tấn)
Luân chuyển
(Tỷ tấn.km)
Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 202,8 34,0 16,2 5,3
Đường sắt 0,3 0,3 -24,8 -27,4
Đường biển 7,4 14,2 -3,1 -10,4
Đường thủy nội địa 34,9 8,1 34,9 40,2
Đường bộ 160,1 10,7 14,0 7,0
Hàng không 0,03 0,7 -14,8 161,1

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[20]

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Một[21] đạt 871,2 nghìn lượt người, tăng 23,2% so với tháng trước và gấp 44,2 lần cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tuy nhiên, khách quốc tế đến Việt Nam tháng Một năm nay vẫn giảm 42% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa xảy ra dịch Covid-19.

Trong tổng số gần 871,2 nghìn lượt khách quốc tế đến Việt Nam tháng 01/2023, khách đến bằng đường hàng không đạt 800,1 nghìn lượt người, chiếm 91,9% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và gấp 46,1 lần cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 65,5 nghìn lượt người, chiếm 7,5% và gấp 27,8 lần; bằng đường biển đạt 5,6 nghìn lượt người, chiếm 0,6% và gấp 564,5 lần.

Hình 17. Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 01 năm 2023 phân theo vùng lãnh thổ
Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 01 năm 2023 7

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Theo khảo sát tình hình đời sống của hộ dân cư tháng Một năm 2023 tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm trước là 92,9%; tỷ lệ hộ đánh gia đình có thu nhập giảm là 7,1%.

Các hộ đánh giá có thu nhập giảm cho rằng các nguyên nhân chính làm cho thu nhập giảm là: 31,7% hộ gia đình có thành viên mất việc làm/tạm nghỉ việc; 31,7% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng và 26,5% hộ đánh giá do giá bán các sản phẩm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm.

Về tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong tháng đầu năm 2023, các hộ gia đình đánh giá: 39,6% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao; 13,9% hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với con người.

Trong tháng đầu năm 2023, có khoảng hơn 12% hộ gia đình được phỏng vấn nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 4,1%; từ họ hàng, người thân là 7,6%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 4,1%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 2,1% và từ các nguồn khác là gần 0,02%.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội dịp Tết Nguyên đán Quý Mão cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đã được thực hiện hiệu quả, vui tươi, đầm ấm, thiết thực. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong dịp Tết Nguyên đán đã trích kinh phí tặng quà cho các đối tượng nguồn ngân sách trung ương, địa phương và các nguồn vận động xã hội với tổng kinh phí khoảng 10 nghìn tỷ đồng (ngân sách trung ương khoảng 600 tỷ đồng; ngân sách địa phương khoảng trên 3.200 tỷ đồng). Trong đó, riêng người có công với cách mạng, Chủ tịch nước tặng quà cho trên 1,5 triệu đối tượng với tổng kinh phí trên 460 tỷ đồng; chính quyền địa phương các cấp tặng trên 3 triệu suất quà tết, với tổng kinh phí trên 2 nghìn tỷ đồng.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 1654/QĐ-TTg ngày 30/12/2022; các Quyết định số 14/QĐ-TTg; Quyết định số 15/QĐ-TTg; Quyết định số 16/QĐ-TTg và Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 13/01/2023; Quyết định số 21/QĐ-TTg ngày 18/01/2023 hỗ trợ gạo cho gần 200 ngàn hộ với 1,2 triệu nhân khẩu người dân dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2023 cho 17 tỉnh với 18 nghìn tấn gạo. Các địa phương đã chủ động bố trí ngân sách địa phương và nguồn xã hội hóa để hỗ trợ trên 1,5 nghìn tấn gạo cho các hộ nghèo, cận nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/12/2022-18/01/2023), cả nước có 2.472 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 320 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 04 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 01 trường hợp sốt phát ban nghi sởi.

Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[22], Mỹ là quốc gia có số ca mắc và tử vong cao nhất trên thế giới, tại Mỹ biến thể phụ XBB.1.5 đang dần chiếm ưu thế và số ca mắc do biến thể này gây ra ngày càng tăng. Tại Việt Nam, các địa phương tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống và kiểm soát dịch, đặc biệt là tại các khu vực cửa khẩu để phát hiện trường hợp nghi ngờ mắc Covid-19, nhất là các đối tượng nhập cảnh từ các khu vực đang bùng phát dịch, từ các nơi xuất hiện các biến thể mới. Kể từ ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/01/2020 đến ngày 28/01/2023, Việt Nam có hơn 11,5 triệu trường hợp mắc, trong đó 10,6 triệu trường hợp đã được chữa khỏi và 43,2 nghìn trường hợp tử vong.

Công tác tiêm vắc xin phòng Covid-19 tiếp tục được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế đảm bảo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19. Từ ngày 08/3/2021 đến ngày 26/01/2023, tổng số liều vắc xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 266,1 triệu liều, trong đó tiêm mũi 1 là 90,5 triệu liều; tiêm mũi 2 là 85,9 triệu liều; mũi bổ sung là 14,5 triệu liều; mũi nhắc lại lần 1 là 57,7 triệu liều; mũi nhắc lại lần 2 là 17,5 triệu liều.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/01/2023 là 222,6 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 112,6 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng 01/2023 xảy ra 03 vụ với 30 người bị ngộ độc (01 trường hợp tử vong).

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Các hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão được tổ chức ở nhiều địa phương trên cả nước nhằm thúc đẩy sự quan tâm của giới trẻ đến những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông; nâng cao ý thức của cộng đồng về một “lễ hội” lành mạnh, tiết kiệm, giàu bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây là cơ hội để quảng bá lịch sử, văn hóa, du lịch của các địa phương tới du khách trong nước và quốc tế.

Về thể thao quần chúng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, Chương trình Bơi an toàn phòng chống tai nạn đuối nước trẻ em và Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030. Một số hoạt động thể thao quần chúng nổi bật trong tháng Một như: Giải Vô địch quốc gia Việt dã leo núi “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” lần thứ 28, năm 2023 diễn ra ngày 06/01/2023 tại Bình Phước; Lễ ký kết hợp tác về việc tổ chức Giải thể thao Sinh viên Việt Nam (VUG) giữa Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam và Công ty TCP Việt Nam – Nhãn hàng nước tăng lực Warrior diễn ra ngày 11/01/2023.

Về thể thao thành tích cao, trong tháng 01/2023 hoạt động thể thao nổi bật phải kể đến là Giải Vô địch Bóng đá Đông Nam Á (AFF Cup) diễn ra từ ngày 20/12/2022-16/01/2023 đội tuyển Việt Nam đã giành được ngôi vị á quân với tỷ số chung cuộc là 2-3 trước đội tuyển Thái Lan sau hai lượt trận chung kết.

d) Tai nạn giao thông[23]

Trong tháng Một (15/12/2022-14/01/2023), trên địa bàn cả nước xảy ra 797 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 603 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 194 vụ va chạm giao thông, làm 508 người chết; 306 người bị thương và 199 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 29,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 20,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 47,3%); số người chết giảm 9,9%; số người bị thương giảm 33,9% và số người bị thương nhẹ giảm 49,2%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 12,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 29,7%); số người chết giảm 10,1%; số người bị thương giảm 8,9% và số người bị thương nhẹ giảm 24,3%. Bình quân một ngày trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 20 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 6 vụ va chạm giao thông, làm 16 người chết, 10 người bị thương và 6 người bị thương nhẹ.

Trong 7 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Quý Mão (từ ngày 20-26/01/2023) trên địa bàn cả nước xảy ra 152 vụ tai nạn giao thông, làm 89 người chết và 111 người bị thương. So với kỳ nghỉ Tết Nhâm Dần, số vụ tai nạn giảm 7,3%, số người chết giảm 3,3% và số người bị thương tăng 8%.

đ) Thiệt hại thiên tai[24], bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Thiên tai xảy ra trong tháng chủ yếu là mưa lớn; sạt lở làm 6,6 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 93 ngôi nhà bị ngập hư hại, thiệt hại ước tính 16,1 tỷ đồng, giảm 97,1% so với cùng kỳ năm 2022.

 Trong tháng 01/2023, theo báo cáo từ các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan chức năng đã phát hiện 2.880 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 2.398 vụ với tổng số tiền phạt gần 28 tỷ đồng, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 149 vụ cháy, nổ[25], làm 5 người chết và 7 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính gần 7,2 tỷ đồng, giảm 65,9% so với tháng trước và giảm 70% so với cùng kỳ năm trước./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính từ 16/12/2022 đến 15/01/2023.

[2] Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia: Giá cá tra nguyên liệu loại 0,8-1,1 kg/con tại Đồng bằng sông Cửu Long dao động từ 28.000-29.000 đồng/kg, tăng từ 4.000-5.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

[3] Tết Nguyên đán Nhâm Dần diễn ra vào tháng 02/2022.

[4]Chỉ số IIP tháng 01/2023 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn giảm mạnh là: Vĩnh Long giảm 22,8%; Vĩnh Phúc giảm 28,7%; TP. Hồ Chí Minh giảm 21,4%; Đồng Nai giảm 15,7%; Bình Dương giảm 17,4%; Hà Nội giảm 23,2%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 13,8%; Hải Dương giảm 20,2%; Quiang Bình giảm 26,5%.

[5] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2023 so với cùng kỳ năm trước giảm nhiều hoặc tăng thấp phần lớn do doanh nghiệp chưa có đơn hàng: Quảng Nam giảm 47%; Hà Giang giảm 32%; Sóc Trăng giảm 31%; Vĩnh Long giảm 25,5%; Vĩnh Phúc giảm 19,6%; Tây Ninh giảm 16,7%; TP. Hồ Chí Minh giảm 15,6%; Đồng Nai giảm 14,4%; Nam Định giảm 12,2%; Hòa Bình tăng 0,4%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện giảm: Hòa Bình giảm 27,5%; Đồng Nai giảm 14%; Quảng Nam giảm 13,5%; Tây Ninh giảm 7,9%. Địa phương có chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2023 so với cùng kỳ năm trước tăng là: Tuyên Quang tăng 34,5%; Hậu Giang tăng 10,5%; Phú Yên tăng 8,9%; Kon Tum tăng 7,8%; Nghệ An tăng 7%; Cần Thơ tăng 6,8%; An Giang tăng 6,7%; Điện Biên tăng 5,9%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hậu Giang gấp 3,2 lần; Quảng Trị tăng 46,7%; Điện Biên tăng 26,2%; Kon Tum tăng 17,5%; An Giang tăng 15,8%; Bình Thuận tăng 11,4%; Cần Thơ tăng 11,2%; Phú Yên tăng 10,8%.

[6] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 27/01/2023.

[7]Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/01/2023.

[8] Theo báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình thực hiện Ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 01/2023.

[9] Giá trị kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và giá trị kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).

[10] Tết Nguyên đán năm 2022 rơi vào tháng 02/2022.

[11] Ước tính trị giá xuất khẩu, nhập khẩu tháng 01/2023 do Tổng cục Hải quan cung cấp ngày 27/01/2023.

[12] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 01 năm 2022 đạt 62,1 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 31,9 tỷ USD, tăng 11,6%; nhập khẩu đạt 30,2 tỷ USD, tăng 13,7%.

[13] Ước tính tháng 12/2022 xuất siêu 0,5 tỷ USD.

[14] Giá gạo tăng 0,84% do giá xuất khẩu duy trì ở mức cao và nhu cầu tiêu dùng các loại gạo tẻ ngon và gạo nếp tăng vào dịp Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, các mặt hàng lương thực chế biến khác cũng tăng như: Miến tăng 1,19%; mì sợi, mì, phở, cháo ăn liền tăng 1,03%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,72%; bột ngô tăng 0,67%; bánh mì tăng 0,48%.

[15] Trong đó, giá thịt lợn tăng 0,33% do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao trong những ngày giáp Tết Nguyên đán; thịt gia cầm tăng 1,23%; giá trứng các loại tăng 0,44%; dầu thực vật tăng 0,85%; đồ gia vị tăng 0,92%; bơ, sữa phô mai tăng 0,4%; bánh, mứt, kẹo tăng 1,23%; chè, cà phê, cacao tăng 0,83%; quả tươi, chế biến tăng 3,25% do nhu cầu tiêu dùng của người dân trong ngày Lễ ông Công, ông Táo và dịp Tết Nguyên đán tăng cao. Ở chiều ngược lại, giá rau trong tháng giảm 0,09% do thời tiết thuận lợi, nguồn cung rau dồi dào, giá rau xanh phục vụ Tết Nguyên đán ổn định.

[16] Do nhu cầu mua sắm, du xuân dịp Tết Nguyên đán tăng, chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,14%; dụng cụ thể dục, thể thao tăng 0,26%; dịch vụ chụp, in tráng ảnh tăng 0,53%; cây, hoa cảnh, vật cảnh tăng 3,19%; du lịch trọn gói tăng 0,99%; khách sạn, nhà hàng tăng 0,57%.

[17] Trong đó, giá máy đánh trứng, máy trộn đa năng tăng 0,77%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,26%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,32%;  giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,42%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,52%; hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,57%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,26%.

[18] Chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tỉnh Yên Bái giảm 41,16% so với tháng trước, tỉnh Thái Bình giảm 8,03%.

[19] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

[20] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an.

[21] Kỳ báo cáo từ ngày 21/12/2022-20/01/2023.

[22] Từ cuối tháng 12/2019 đến ngày 28/01/2023 trên thế giới có 674,5 triệu trường hợp mắc Covid-19 (6.756,7 nghìn trường hợp tử vong).

[23] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải) từ ngày 15/12/2022 đến ngày 14/01/2023.

[24]Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/12/2022-18/01/2023.

[25] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/01/2023.

By Phổ biến thông tin thống kê

Cảm ơn bạn đã đọc bài

Related Post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *