CN. Th7 21st, 2024

Tình hình kinh tế – xã hội tháng 5, 5 tháng năm 2023 TP Hải Phòng

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Hoạt động tài chính, ngân hàng

1.1 Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 5/2023 ước đạt 6.798,3 tỷ đồng, bằng 80,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 1.841,6 tỷ đồng, bằng 63% so với cùng kỳ năm trước; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.955,6 tỷ đồng, bằng 90,08% so với cùng kỳ năm trước. Ước 5 tháng/2023 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 38.630,2 tỷ đồng, đạt 33,18% Dự toán Hội đồng nhân nhân thành phố giao và bằng 87,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 12.444,6 tỷ đồng, đạt 29,28% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 77,39% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 24.885,4 tỷ đồng, đạt 35,6% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố và bằng 91,98% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 5/2023 ước đạt 3.815,5 tỷ đồng, bằng 160,91% so với cùng kỳ năm trước. Ước 5 tháng/2023 tổng chi ngân sách địa phương đạt 12.509,3 tỷ đồng, đạt 31,62% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 160,91% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi đầu tư phát triển trong chi cân đối ngân sách địa phương đạt 7.561,5 tỷ đồng, đạt 36,61% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 297,08% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên đạt 4.607,3 tỷ đồng, đạt 31,72% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 103,53% so với cùng kỳ năm trước. 

1.2. Ngân hàng

* Công tác huy động vốn

Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/5/2023 đạt 302.159 tỷ đồng, tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước. 

* Công tác tín dụng

Tổng dư nợ cho vay đến 31/5/2023 ước đạt 186.877 tỷ đồng, tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước. 

Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND ước đạt 180.173 tỷ đồng, tăng 12,06% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 96,41%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 6.704 tỷ đồng, giảm 13,94% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 3,59%.

Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 99.105 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 53,03%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 87.772 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 46,97%. 

2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Giá một số loại thực phẩm như thịt lợn, thủy hải sản có xu hướng tăng nhẹ; nhu cầu đi du lịch của người dân tăng là những nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2023 tăng 0,01% so với tháng trước; tăng 1,91% so với tháng 12/2021 và tăng 3,43% so với cùng kỳ năm trước. 

Tính chung bình quân 5 tháng năm 2023, CPI tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,58% của 5 tháng năm 2022.

So với tháng trước, CPI thành phố Hải Phòng tháng 5/2023 tăng 0,01% (khu vực thành thị tăng 0,02%; khu vực nông thôn có chỉ số không thay đổi). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm có chỉ số giá tăng, 04 nhóm hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 5/2023 tăng 3,43%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá.

 So với tháng 12/2022, CPI tháng 5/2023 tăng 1,91%, trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2023 tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước.

Một số nguyên nhân làm tăng CPI 5 tháng năm 2023

– Giá nhà cho thuê tăng 19,69% do nhu cầu thuê nhà tăng sau Tết Nguyên đán;

– Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,58% do giá sắt, thép, xi măng tăng theo giá nguyên liệu đầu vào làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm;

– Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Tết Nguyên đán và Rằm tháng Giêng tăng cao làm cho giá gạo 5 tháng đầu năm tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm.

Một số nguyên nhân làm giảm CPI 5 tháng năm 2023

– Từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh 14 đợt, làm cho giá xăng giảm 14,66%, giá dầu diezel giảm 8,97%, tác động CPI chung giảm 0,45 điểm phần trăm;

– Giá gas trong nước từ đầu năm đến nay giảm 7,46% so với cùng kỳ, tác động làm CPI giảm 0,08 điểm phần trăm;

– Thời tiết thuận lợi nên rau xanh phát triển tốt, nguồn cung ổn định làm cho giá rau tươi, khô và chế biến giảm 3,67% so với cùng kỳ.

* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

– Giá vàng trong nước chịu ảnh hưởng bởi giá vàng thế giới, chỉ số giá vàng tháng 5/2023 tăng 1,46% so với tháng trước, tăng 6,09% so với tháng 12/2022 và tăng 2,88% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân tháng 5/2023 dao động ở mức 5,71 triệu đồng/chỉ.

– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2023 giảm 0,05% so với tháng trước, giảm 2,36% so với tháng 12/2022 và tăng 2,04% so với cùng tháng năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 5/2023 dao động ở mức 23.670 đồng/USD, giảm  2,07 đồng/USD. Bình quân 5 tháng đầu năm 2023, chỉ số giá đô la Mỹ trong nước tăng 3,21%.

3. Đầu tư

Để thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2023 theo đúng kế hoạch, UBND thành phố chỉ đạo các cấp, ngành thành phố, các đơn vị liên quan triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đẩy mạnh phân bố, giải ngân vốn đầu tư công năm 2023, yêu cầu các Chủ đầu tư dự án đầu tư công, dự án sử dụng vốn ODA điều hành chủ động, linh hoạt, phấn đấu giải ngân hết 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2023 được giao, gắn với đảm bảo chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Chủ động phối hợp với các địa phương tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là tại các dự án trọng điểm của thành phố để đảm bảo tiến độ dự án. 

Vốn đầu tư tháng 5/2023 đạt 1.190,4 tỷ đồng, tăng 38,97% so với cùng kỳ; 5 tháng đầu năm 2023 đạt 4.313,1 tỷ đồng, tăng 38,95% so với cùng kỳ năm 2022. Mức tăng chủ yếu ở vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố (tháng 5 tăng 50,28%; 5 tháng tăng 47,43% so cùng kỳ), do một số dự án thuộc ngân sách thành phố được đẩy mạnh tiến độ thực hiện. Tuy nhiên, tình hình thực hiện vốn đầu tư vẫn còn một số khó khăn như tiến độ giải phóng mặt bằng và thủ tục về đất đai tại một số dự án vẫn còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án; việc triển khai thực hiện dự án vốn vay ODA có nhiều quy trình thủ tục do đó chủ đầu tư và các cơ quan liên quan mất nhiều thời gian trong quá trình triển khai thực hiện.

* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Tính đến 15/5/2023 Hải Phòng có 865 dự án còn hiệu lực:

Tổng vốn đầu tư: 24.940,7 triệu USD

Tính từ đầu năm đến 15 tháng 5 toàn thành phố có 30 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 269 triệu USD và 16 dự án điều chỉnh tăng với số vốn tăng là 330,2 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Từ nửa cuối tháng 4 đến 15/5/2023 có 6 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 71,1 triệu USD. Các dự án chủ yếu có vốn đầu tư nhỏ. 

Tính từ đầu năm đến 15 tháng 5 có 14 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động, trong đó có 12 dự án nằm ngoài KCN và 2 dự án nằm trong KCN.

4. Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng 5/2023 tiếp tục tập trung vào công tác chăm sóc lúa Đông xuân, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản trên địa bàn được duy trì và phát triển ổn định.

4.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2023 toàn thành phố ước đạt 42.008,6 ha, bằng 98,10% so với vụ Đông xuân năm trước. Diện tích gieo trồng cây hàng năm có xu hướng giảm ở các nhóm cây, trong đó cây lúa có mức giảm nhiều nhất do xu hướng chuyển sang đất xây dựng, trồng rau màu và nuôi trồng thủy sản.

Diện tích gieo trồng cây lúa ước đạt 27.588,5 ha, bằng 98,39% so với cùng kỳ năm trước. Người dân tại các địa phương tăng cường thực hiện chăm sóc lúa cấy, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, giữ nước đều trên mặt ruộng tránh để bị khô hạn. Hiện nay, cây lúa chủ yếu đang giai đoạn đòng già – trỗ bông, sinh trưởng phát triển khá tốt, diện tích lúa đã trỗ ước đạt 24.000 ha (chiếm trên 85% diện tích gieo cấy). Ước tính năng suất lúa toàn thành phố đạt 70,08 tạ/ha, bằng 99,86% so với vụ Đông xuân năm trước.

Diện tích nhóm cây rau các loại ước đạt 8.672 ha, bằng 97,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích nhóm cây rau lấy lá ước đạt 4.127,3 ha, bằng 98,06%; diện tích cây dưa lấy quả ước đạt 412,6 ha, bằng 99,03%… Năng suất nhóm cây rau các loại ước đạt 230,2 tạ/ha, bằng 101,12% so cùng kỳ năm trước.

* Chăn nuôi

Ước tính tháng 5 năm 2023, số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố hiện có như sau: Tổng đàn trâu ước đạt 4,18 nghìn con, giảm 0,76% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 7,46 nghìn con, giảm 6,22%. 

Tổng đàn lợn hiện có trên địa bàn ước đạt 136,25 nghìn con, giảm 5,54% so cùng kỳ năm trước. Hiện tỷ lệ tái đàn lợn của các hộ, đặc biệt là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chậm, một số gia trại lợn tạm ngừng nuôi thời gian dài và giảm quy mô nuôi do chi phí thức ăn chăn nuôi tăng cao, giá thành sản xuất thấp làm ảnh hưởng lớn đến số lượng tổng đàn.

Tổng đàn gia cầm ước đạt 7.996,78 nghìn con, giảm 0,53% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà ước đạt 6.358,25 nghìn con, tăng 2,06%. Đàn gia cầm giảm chủ yếu ở đàn vịt do giá vịt hơi xuất chuồng giảm, nhiều hộ giảm quy mô đàn vật nuôi.

4.2. Lâm nghiệp

Tháng 5 năm 2023, sản lượng gỗ khai thác trên địa bàn thành phố ước đạt 113,1 m3, bằng 96,83% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 2.621,5 ste, bằng 97,60%. 

Ước tính 5 tháng năm 2023, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 599,5 m3, bằng 95,86% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 14.980,5 ste, bằng 96,77%. Nhìn chung, sản lượng gỗ, củi tiếp tục có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, số cây lâm nghiệp trồng phân tán 5 tháng năm 2023 ước đạt 89 nghìn cây, bằng 95,70% so với cùng kỳ năm trước.

4.3. Thủy sản

Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 5 năm 2023 ước đạt 17.587,6 tấn, tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản ước đạt 83.060,6 tấn, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước.

* Nuôi trồng

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 5 năm 2023 ước đạt 6.737,8 ha, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 5 tháng năm 2023, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 9.296,7 ha, tăng 0,54%.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 5 năm 2023 ước đạt 6.644,9 tấn, tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 5 tháng năm 2023 sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 34.229,2 tấn, tăng 2,85%, chia ra: cá các loại đạt 21.145,2 tấn, tăng 3,01%; tôm các loại đạt 2.775,9 tấn, tăng 4,62%; thủy sản khác đạt 10.308,1 tấn, tăng 2,07%. 

* Khai thác 

Sản lượng khai thác thủy sản tháng 5 năm 2023 ước đạt 10.942,7 tấn, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 5 tháng đầu năm 2023, sản lượng thủy sản khai thác của toàn thành phố ước đạt 48.831,4 tấn, giảm 1,62% so với cùng kỳ năm trước.

5. Sản xuất công nghiệp

Tháng 5/2023 là tháng thứ 2 liên tiếp chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước và có mức tăng thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, ước giảm 10,04% so với tháng 4/2023, chủ yếu do sụt giảm sản xuất một số ngành công nghiệp như dệt may, da giày, đồ gỗ do nhu cầu thị trường giảm sâu, không có đơn hàng, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp… Các doanh nghiệp công nghiệp đang đứng trước nhiều áp lực, từ việc duy trì sản xuất ổn định đến tìm kiếm khách hàng cũng như nhà cung cấp. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm 2023, sản xuất công nghiệp của thành phố vẫn duy trì mức tăng, ước tăng 12,16% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,39%, đóng góp 12,86 điểm phần trăm, ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,53%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung, ngành khai khoáng tăng 8,12%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào mức tăng chung, ngành có chỉ số giảm là ngành sản xuất, phân phối điện giảm 10,76%, tác động làm giảm 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong 5 tháng đầu năm, nhiều ngành công nghiệp trọng điểm tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính tăng 92,38% so với cùng kỳ; sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 61,17%; đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 69,08%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 56,16% so với cùng kỳ; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 59,03%; sản xuất săm, lốp cao su, đắp và tái chế lốp cao su tăng 37,28%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 42,73%;…

Một số ngành có mức tăng khá: sản xuất máy chuyên dụng khác tăng 36,28%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 13,33%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,34%; sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 19,31%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,32%;…

Ở chiều ngược lại một số ngành có chỉ số sản xuất giảm như: sản xuất pin và ắc quy giảm 41,4%; sản xuất hóa chất cơ bản giảm 30,47%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 41,41%; sản xuất đồ gỗ xây dựng giảm 25,77%; lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp giảm 41,59%; sản xuất sắt thép gang giảm 16,07%; sản xuất máy nông nghiệp và lâm nghiệp giảm 34,3%;…

* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2023 ước giảm 14,84% so với tháng trước và giảm 1,75% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 5 tháng đầu năm 2023 chỉ số tiêu thụ tăng 7,55%. Trong đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: sản xuất thiết bị truyền thông tăng 59,14%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 21,31%; sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 37,05%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 29,49%; sản xuất săm lốp cao su tăng 31,08%; sản xuất thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh tăng 33,84%;…. 

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh như: sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa giảm 57,02%; sản xuất đồ gỗ xây dựng giảm 45,78%; sản xuất giày dép giảm 24,83%; may trang phục giảm 32,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 37,58%; sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 30,85%; sản xuất xe có động cơ giảm 24,28%;….

*Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/5/2023 dự kiến tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 32,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh tăng 154,76%; sản xuất gỗ các loại tăng 174,46%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 86,34%; sản xuất giày dép tăng 119,99%; sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 105,87%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 106,49%;…

Bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: sản xuất bia và mạch nha giảm 76,9%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 81,07%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao giảm 59,77%; sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện giảm 62,26%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 37,08%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 24,3%;…

*Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 5 tháng năm 2023 dự kiến tăng cao so với cùng kỳ năm trước: cấu kiện cầu bằng sắt thép sản xuất đạt 22 nghìn tấn, tăng 288,06% so với cùng kỳ; giấy và bìa khác sản xuất đạt 4,4 nghìn tấn, tăng 61,17% so với cùng kỳ; bút chì đen, bút chì màu và các loại bút chì khác sản xuất đạt 158,7 triệu cái, tăng 73,22%; bê tông tươi sản xuất đạt 391,2 nghìn m3, tăng 46,89%; modul camera sản xuất đạt 85,4 triệu cái, tăng 62,19% so với cùng kỳ; các thiết bị ngoại vi của máy vi tính sản xuất đạt 6,35 triệu cái, tăng 99,4% so với cùng kỳ;… 

Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: thuốc lá có đầu lọc sản xuất đạt 30,9 triệu bao, giảm 41,41% so với cùng kỳ; các loại ắc quy điện sản xuất đạt 88,31 nghìn kwh, giảm 41,4%; máy cắt cỏ sản xuất đạt 800,9 nghìn cái, giảm 34,3%; sổ sách, vở thếp sản xuất đạt 16,7 nghìn tấn, giảm 27,74% so với cùng kỳ; các loại nến cây sản xuất đạt 27,2 triệu cây, giảm 40,88% so với cùng kỳ; giày dép các loại sản xuất đạt 18,4 triệu đôi, giảm 16,36%; quần áo các loại sản xuất đạt 60,9 triệu đôi, giảm 19,62%; điện sản xuất đạt 2.426 triệu Kwh, giảm 13,52% so với cùng kỳ;…

* Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2023 dự kiến tăng 0,63% so với tháng 4/2023 và giảm 6,24% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,26%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,68%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 9,24%. Tại thời điểm trên, trong tất cả các ngành kinh tế cấp I chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp đều giảm, trong ngành khai khoáng giảm 10,71% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,41%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,13%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,03%.

6. Thương mại, dịch vụ

Tháng 5 năm 2023, ngành thương mại, dịch vụ và vận tải của thành phố tiếp tục đạt mức tăng trưởng khá cao. Đây là tháng khởi đầu mùa du lịch biển và cũng là tháng có nhiều ngày lễ hội khi nhu cầu liên hoan, du lịch, vui chơi giải trí và đi lại của người dân tăng cao đã tác động tích cực đến doanh thu các hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ của thành phố. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 5 năm 2023 ước đạt 16.262 tỷ đồng, tăng 1,77% so với tháng trước, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 5 tháng/2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 79.539,1 tỷ đồng, tăng 13,69% so với cùng kỳ năm trước. 

– Hoạt động bán lẻ:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5 năm 2023 ước đạt 13.533 tỷ đồng, tăng 1,47% so với tháng trước, tăng 14,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành đều tăng so với tháng trước, cụ thể: doanh thu ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 2,27%; hàng may mặc tăng 1,53%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 1,27%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 2,09%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,05%; ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 1,56%; xăng dầu các loại tăng 1,13%; nhiên liệu khác tăng 1,06%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,02%; hàng hóa khác tăng 0,96%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 2,96%.

Doanh thu hoạt động bán lẻ 5 tháng năm 2023 ước đạt 66.469,9 tỷ đồng tăng 14,02% so với cùng kỳ, tăng ở hầu hết các ngành hàng. Trong đó, doanh thu ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 14,32%; hàng may mặc tăng 13,96%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,82%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 13,98%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,96%; ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 14,26%; phương tiện đi lại khác tăng 14,13%; xăng dầu các loại tăng 14,17%; nhiên liệu khác tăng 13,91%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,60%; hàng hóa khác tăng 13,99%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 13,99%.

– Hoạt động dịch vụ:  

Tháng 5 hoạt động các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và một số ngành dịch vụ khác tiếp tục có nhiều khởi sắc góp phần thúc đẩy phục hồi nhanh tới các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ của thành phố, cụ thể:

– Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 5 năm 2023 ước đạt 201,2 tỷ đồng, tăng 14,60% so với tháng trước và tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu lưu trú đạt 807,9 tỷ đồng, tăng 12,03% so với cùng kỳ năm trước. 

– Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 5 năm 2023 ước đạt 1.629,8 tỷ đồng, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 19,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu ăn uống đạt 8.026,2 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. 

– Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ tháng 5 ước đạt 27,6 tỷ đồng, tăng 40,83% so với tháng trước và tăng 78,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ đạt 81,7 tỷ đồng, tăng hơn 2,15 lần so với cùng kỳ năm trước. 

– Doanh thu dịch vụ khác tháng 5 năm 2023 ước đạt 870,4 tỷ đồng, tăng 4,11% so với tháng trước và giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.153,4 tỷ đồng, tăng 4,49% so với cùng kỳ năm trước.  

7. Hoạt động lưu trú và lữ hành

Tổng lượt khách tháng 5/2023 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 587,3 nghìn lượt, tăng 8,31% so với tháng trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 86,1 nghìn lượt, tăng 2,88 lần so với cùng tháng năm trước. 

Cộng dồn 5 tháng/2023, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 2.533 nghìn lượt, tăng 14,99% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 406,4 nghìn lượt, tăng 4,8 lần so với cùng kỳ năm trước. 

Đối với hoạt động lữ hành, tháng 5 lượt khách lữ hành của các cơ sở trên địa bàn thành phố phục vụ ước đạt 8,58 nghìn lượt, tăng 29,18% so với tháng trước và tăng 8,68% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch do các cơ sở lữ hành trên địa bàn thành phố phục vụ đạt 26,03 nghìn lượt, tăng 43,97% so với cùng kỳ.

8. Giao thông vận tải

Tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát dự kiến tháng 5 năm 2023 đạt 9,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 5 tháng đầu năm 2023 đạt 48,54 nghìn tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, hoạt động từng loại hình như sau:

8.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng 5 ước tính đạt 23,6 triệu tấn, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 8,62% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 9.555 triệu tấn.km, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 0,46% so cùng kỳ năm trước; doanh thu ước tính đạt 4,64 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng 0,03% so tháng trước và tăng 13,03% so cùng kỳ năm trước.

Ước tính 5 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 118,3 triệu tấn, tăng 6,51%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 48.594 triệu tấn.km, tăng 3,39%; doanh thu ước đạt 23,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,41% so với 5 tháng đầu năm 2022.

8.2. Vận tải hành khách

Trong tháng 5/2023, doanh thu ước tính đạt 304,6 tỷ đồng, bằng 100,57% so tháng trước và tăng 65,44% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,7 triệu lượt người, tương ứng tăng 2,18% so tháng trước và tăng 60,66% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 249,5 triệu lượt HK.km, tương ứng tăng 0,50% so tháng trước và tăng 71,06% so cùng kỳ năm trước. 

Ước tính 5 tháng đầu năm 2023, số lượt hành khách vận chuyển đạt 27,7 triệu lượt người, tăng 123,55%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.221 triệu lượt HK.km, tăng 138,98%; doanh thu ước đạt 1,48 nghìn tỷ đồng, tăng 123,21% so với 5 tháng cùng kỳ năm trước. 

8.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải…)  tháng 5 ước tính đạt 4,65 nghìn tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu cộng dồn trong 5 tháng đầu năm ước tính đạt 23,76 nghìn tỷ đồng, tăng 19,73% so cùng kỳ năm trước.

8.4. Vận tải hàng không

Tháng 5 năm 2023, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 22,9 tỷ đồng, giảm 1,6% so với tháng trước; giảm 24,13% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 123,69 tỷ đồng, tăng 25,49% so với cùng kỳ.

Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 5 năm 2023 ước đạt 1.460 chuyến, tăng 10,11% so với tháng trước, giảm 24,39% so với cùng tháng năm trước, trong đó, có 60 chuyến bay ngoài nước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm, số lần máy bay hạ, cất cánh ước đạt 7.296 chuyến, tăng 13,56% so với cùng kỳ.

Tổng số hành khách tháng 5 năm 2023 ước đạt 208,5 ngàn lượt người, giảm 1,74% so với tháng trước, giảm 31,39% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm, tổng số hành khách vận chuyển ước đạt hơn 1.115,35 ngàn lượt người, tăng 16,45% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số hàng hóa tháng 5 năm 2023 ước đạt 1.280 tấn, giảm 3,54% so với tháng trước, tăng 35,45% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm, tổng số hàng hóa ước đạt 6.670 tấn, tăng 58,21% so với cùng kỳ.

9. Hàng hoá thông qua cảng 

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 5 năm 2023 ước đạt 11,506 triệu TTQ, giảm 1,4% so với tháng trước và giảm 9,12% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 5 tháng đầu năm 2023 đạt 56,29 triệu TTQ, giảm 3,19% so với cùng kỳ năm 2022.

* Doanh thu cảng biển 5 tháng đầu năm 2023 đạt 2.595,21 tỷ đồng, giảm 4,93% so với cùng kỳ năm 2022.

II. VĂN HÓA – XÃ HỘI

Trong tháng 5/2023, đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm, các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội

* Công tác Lao động, việc làm

Tháng 5/2023, Sàn giao dịch việc làm ước tổ chức 04 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của khoảng 70 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng khoảng 6.810 lao động, cung lao động tại Sàn khoảng 9.890 lượt người.Ước cấp mới 320 giấy phép lao động, cấp lại 25 giấy phép lao động, gia hạn 80 giấy phép lao động, xác nhận 03 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Tiếp nhận Thỏa ước lao động tập thể của 17 doanh nghiệp, thẩm định 32 hồ sơ nội quy lao động và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 20 doanh nghiệp. Trong tháng 5/2023, trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công, không xảy ra tai nạn lao động làm chết người.

Trong 5 tháng năm 2023, Sàn giao dịch việc làm ước tổ chức được 19 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 310 lượt doanh nghiệp tham gia, nhu cầu tuyển dụng là 23.500 lượt lao động. Cung lao động tại Sàn được 29.630 lượt người. Đăng kí bảo hiểm thất nghiệp ước là 9.590 người, đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp 7.150 người, với kinh phí khoảng 174,5 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 9.590 người (tăng 43,86% so với cùng kỳ năm 2022). Ước cấp mới 1.440 giấy phép lao động, cấp lại 90 giấy phép lao động, gia hạn 310 giấy phép lao động, xác nhận 13 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Thực hiện thẩm định 113 hồ sơ nội quy lao động và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 40 doanh nghiệp; đã tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể của 96 doanh nghiệp. 

Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 03 cuộc đình công, ngừng việc tập thể với khoảng 282 lao động tham gia (tăng 01 vụ so với cùng kỳ năm 2022); xảy ra 05 vụ tai nạn lao động làm 05 người chết (giảm 01 vụ tai nạn lao động so với cùng kỳ năm 2022).

* Công tác Giáo dục nghề nghiệp

Tháng 5/2023, báo cáo Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp kết quả triển khai thực hiện Kết luận số 94-KL/TW ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng tại Báo cáo số 85/BC-SLĐTBXH ngày 17/4/2023; kết quả thực hiện các nội dung về giáo dục nghề nghiệp trong các Chương trình mục tiêu quốc gia, giai đoạn 2021-2025 tại Báo cáo số 98/BC-SLĐTBXH ngày 27/4/2023. Báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố việc tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn và thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự năm 2023 tại Công văn số 1967/SLĐTBXH-GDNN ngày 27/4/2023.

Trong 5 tháng năm 2023, tham mưu và báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố triển khai nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn và thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự năm 2023; tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố triển khai Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 21/02/2023 về thực hiện các Quyết định về sắp xếp cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thành phố quản lý của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Dự thảo và phối hợp xin ý kiến các cơ quan, đơn vị để tổng hợp, tiếp thu, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố đề xuất xây dựng Kế hoạch của Ủy ban nhân thành phố thực hiện Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 10/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Hải Phòng. 

* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội

Trong tháng 5 năm 2023, các Cơ sở cai nghiện ma túy đã tổ chức tiếp nhận cai nghiện ma túy tập trung cho 74 người. Số người nghiện ma túy đang quản lý tại các Cơ sở cai nghiện ma túy và Trường LĐXH Thanh Xuân là 792 người. Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 25 người. Điều trị thay thế bằng Methadone tại 06 cơ sở thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội điều trị cho 1.201 người, số hiện đang điều trị là 1.177 người. Đoàn kiểm tra liên ngành 178 thành phố đã tiến hành rà soát, nắm tình hình, kiểm tra 10 cơ sở kinh doanh dịch vụ: nhà nghỉ, khách sạn, karaoke, massage… trên địa bàn thành phố.

Trong 5 tháng năm 2023, tổ chức cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.177 lượt người (bằng 108,08% so với cùng kỳ năm trước). Số đang quản lý trong các Cơ sở cai nghiện ma túy là 792 người. Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 137 người (bằng 165,06% so với cùng kỳ năm trước). Điều trị tại 06 cơ sở thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội điều trị cho 1.323 người. Đoàn kiểm tra 178 thành phố tập trung rà soát, nắm tình hình các cơ sở kinh doanh dịch vụ theo Quyết định số 26968/QĐ-SLĐTBXH ngày 14/12/2022 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2023.

2. Giáo dục – Đào tạo

Trong tháng 4/2023, các trường học tổ chức kiểm tra học kỳ 2; kiểm tra công tác xét tốt nghiệp THCS của quận huyện năm học 2022-2023. Triển khai công tác tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 và Kỳ thi tuyển sinh vào Lớp 10 THPT năm học 2023-2024; triển khai các quy trình thủ tục mua sắm sách thiết bị dạy học cho các trường học.

3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 

* Công tác y tế dự phòng

* Công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19

Tháng 5/2023, Dịch Covid-19 tại Hải Phòng cơ bản được kiểm soát. Số ca mắc trong cộng đồng có xu hướng giảm nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên dịch Covid-19 sẽ không biến mất hoàn toàn, có thể sớm trở thành bệnh lưu hành, vì vậy khuyến khích các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố cần thực hiện các biện pháp chuyển tiếp từ phòng chống đại dịch sang quản lý bền vững.

*Công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm khác

Ước tính trong tháng 5/2023, tình hình các bệnh truyền nhiễm gây dịch trong toàn thành phố có diễn biến như sau: bệnh sốt xuất huyết ghi nhận 10 ca; bệnh chân tay miệng ghi nhận 69 ca; bệnh thủy đậu ghi nhận 36 ca; bệnh quai bị ghi nhận 06 ca; bệnh tiêu chảy ghi nhận 79 ca; bệnh lỵ ghi nhận 11 ca; bệnh cúm ghi nhận 246 ca; bệnh sởi và bệnh viêm não vi rút không ghi nhận ca bệnh.

* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong tháng 5/2023, Thực hiện Quyết định số 53/QĐ-ATTP ngày 25/4/2023 về việc kiểm tra an toàn thực phẩm các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phục vụ tổ chức Lễ hội Văn hóa dân gian Biển đảo Việt Nam và Khai mạc Lễ hội Biển Đồ Sơn – Hải Phòng năm 2023, Đoàn kiểm tra ATTP của Chi cục đã tiến hành kiểm tra, nhắc nhở 02 cơ sở phục vụ Lễ hội: Nhà hàng Con Sò, Khách sạn Dream tại Khu du lịch Đồi Rồng. Thực hiện Quyết định số 40/QĐ-BCĐ ngày 25/4/2023 của Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm thành phố Hải Phòng về việc kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm đợt “Tháng hành động vì An toàn thực phẩm” năm 2023, Đoàn kiểm tra số 1 do Sở Y tế chủ trì đã tiến hành kiểm tra tại 05 Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm các quận, huyện: Ngô Quyền, Lê Chân, An Dương, Hải An, Dương Kinh; và 05 cơ sở.

Tính đến thời điểm báo cáo, thành phố không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, không có ca tử vong do ngộ độc thực phẩm trên địa bàn thành phố. 

* Công tác phòng chống HIV/AIDS

Ước tính đến tháng 5/2023, lũy tích số người nhiễm HIV là 11.748 người, lũy tích số người chuyển sang AIDS là 6.372 người, lũy tích số người chết do AIDS là 5.422 người, số người HIV hiện còn sống là 6.326 người. 

Ước tính đến thời điểm báo cáo, tổng số cơ sở điều trị Methadone 18 cơ sở tổng số bệnh nhân điều trị  3.910 người, đạt 85% chỉ tiêu được giao, số bệnh nhân đạt liều duy trì 95%; Ngành Y tế điều trị Methadone cho 2.756 người (70%). Đảm bảo dự trù thuốc Methadone cho tất cả các cơ sở điều trị trên địa bàn thành phố.

4. Văn hóa – Thể thao 

Trong tháng 5/2023, thành phố tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ như: các hoạt động chào mừng ngày lễ 30/4, 01/5, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ… đã thu hút sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo nhân dân và du khách. Hướng dẫn các địa phương, phối hợp với các sở ngành thực hiện tốt công tác quản lý lễ hội, các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, các dịch vụ vui chơi, giải trí trên địa bàn theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố. Phối hợp với Thành Đoàn gắn mã QR về thông tin di tích tịch sử văn hoá cấp quốc gia tại các di tích trên địa bàn các quận, huyện. 

Công tác thể dục, thể thao: tập trung tập luyện chuẩn bị lực lượng vận động viên thể thao thành tích cao thi đấu giành thành tích tốt nhất tại các giải đấu quốc gia, quốc tế. Tổ chức các hoạt động và giải thể thao cấp thành phố; lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước.

5. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Từ ngày 15/4/2023 đến ngày 14/5/2023, toàn thành phố xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 03 người chết, không có người bị thương. So với cùng kỳ năm 2022, số vụ tai nạn giao thông giảm 04 vụ (tương ứng giảm 66,67%); số người chết giảm 02 người (tương ứng giảm 40%) và số số người bị thương giảm 01 người (tương ứng giảm 100%). Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.  

Trong 5 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ. Các vụ tai nạn giao thông làm chết 27 người và bị thương 05 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 04 vụ (tương ứng giảm 12.9%); số người chết giảm 02 người (tương ứng giảm 6,9%); số người bị thương tăng 01 người (tương ứng tăng 25%).

6. Công tác phòng chống cháy, nổ

Từ ngày 15/4/2023 đến ngày 14/5/2023, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 03 vụ cháy, làm 03 người chết, không có người bị thương; giá trị thiệt hại về tài sản đang trong quá trình xác minh.

Trong 5 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 21 vụ cháy, số người chết là 05 người và bị thương 01 người; nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do tình trạng bất cẩn trong cách sử dụng các thiết bị có nguy cơ cháy, nổ cao tại một số nhà dân và cơ quan, doanh nghiệp; các vụ cháy đang trong quá trình điều tra, xác định giá trị thiệt hại về tài sản. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục chú trọng tăng cường phối hợp liên ngành để kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm dễ xảy ra cháy nổ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy.

CỤC THỐNG KÊ TP HẢI PHÒNG

By Phổ biến thông tin thống kê

Cảm ơn bạn đã đọc bài

Related Post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *